Tổng quan về hội chứng thận hư nhiễm mỡ

Định nghĩa

Thận hư là hội chứng lâm sàng và sinh hoá đc đặc trưng bởi: protein niệu nhiều (>3,5g/24giờ), protein máu giảm (<60g/l), albumin máu giảm (<30g/l), lipit máu tăng và có phù.

Tổng quan về hội chứng thận hư nhiễm mỡ

Thuật ngữ thận hư do Muller Friedrich Von đề ra từ thời điểm năm 1905 để chỉ những căn bệnh ở thận có đặc thù thoái hoá mà không phải do viêm.
Năm 1913, Munk đề ra thuật ngữ thận hư nhiễm mỡ để chỉ một nhóm biểu hiện gồm: phù, protein niệu, giảm protein máu & tăng lipit máu, đồng thời cùng lúc có biểu hiện nhiễm mỡ trong các tế bào đường ống dẫn thận, trong khi các cầu thận gần như nguyên vẹn.
Cùng khoảng thời gian đó (1914), Volhard F. & Fahr T. Cho rằng: thận hư chỉ là 1 bệnh thoái hoá của ống dẫn thận. Từ đó thuật ngữ “thận hư nhiễm mỡ” đc dùng làm chỉ bệnh thận do nhiễm mỡ ở đường ống thận.
cho tới 1937, Epstein đề xướng giả thuyết nghĩ rằng “thận hư nhiễm mỡ” chưa phải là 1 bệnh ở thận mà là tình trạng không ổn định chuyển hoá lipit của cơ thể. Quan đặc điểm này được các nhà thận học thời gian đó ủng hộ rộng thoải mái và trong quãng thời gian dài, nhiều tác giả gọi “thận hư nhiễm mỡ “ là bệnh Epstein.
cho tới những năm 1950, nhờ có kính hiển vi điện tử, người ta đã phát hiện ra các tổn thương trong bệnh “thận hư nhiễm mỡ” hoặc “bệnh Epstein” không phải là bởi vì nhiễm mỡ ở đường ống thận gây nên, mà chấn thương nhẹ mô bệnh học cơ bản lại thấy ở cầu thận. những phân tích trong tương lai cho biết thêm biểu hiện của thận hư có thể xuất hiện trong vô số bệnh cầu thận tiên phát và thứ phát.
chấn thương nhẹ thận cũng nhiều mẫu mã, dù rằng các triệu chứng lâm sàng & sinh hoá kha khá giống nhau. bởi vì thế,bệnh thận hư nhiễm mỡ chưa hẳn là 1 trong bệnh đơn thuần như quan niệm trước kia, cũng không phải do nhiễm mỡ ở ống thận hay do rối loạn chuyển hoá lipit gây ra, mà là triệu chứng của bệnh lý ở cầu thận do nhiều lý do không giống nhau gây nên.
do đấy, phần nhiều các nhà thận học đều nhất quán dùng thuật ngữ “hội chứng thận hư”. một số người sáng tác vẫn còn đó giữ thuật ngữ “thận hư nhiễm mỡ” để chỉ thể bệnh thận hư đơn thuần có chấn thương nhẹ tối thiểu (minimal change disease), tức là thể thận hư mà tổn thương mô bệnh học duy nhất đc quan sát thấy qua kính hiển vi điện tử là mất chân lồi tế bào biểu mô mao quản cầu thận.
Phân loại
triệu chứng thận hư ở người lớn bao hàm biểu hiện thận hư tiên phát rất hay nguyên phát (idiopathic or primary nephrotic syndrome) và triệu chứng thận hư thứ phát rất hay hội chứng thận hư phối hợp (secondry nephrotic syndrome or nephrotic syndrome associated with specific causes).
nguyên do bệnh triệu chứng thận hư
triệu chứng thận hư nguyên phát
hội chứng thận hư đơn thuần: bệnh cầu thận chấn thương nhẹ tối thiểu, chiếm tỉ lệ 20% số những người có bệnh có biểu hiện thận hư.
triệu chứng thận hư do viêm cầu thận mạn bao gồm:
Xơ hoá cầu thận ổ – đoạn: chiếm tỉ lệ 15-20% số những người mắc bệnh có hội chứng thận hư.
Bệnh cầu thận màng: chiếm tỉ lệ 25-30% số bệnh nhân có hội chứng thận hư.
Viêm cầu thận màng tăng sinh: chiếm tỉ lệ 5-10% số những người có bệnh có hội chứng thận hư.
các bệnh viêm cầu thận tăng sinh & xơ hoá khác: chiếm tỉ lệ 15-30% số bệnh nhân có triệu chứng thận hư.
triệu chứng thận hư thứ phát

Bệnh hệ thống:

Đái tháo đường.
Luput ban đỏ khối hệ thống và các bệnh collagen khác.
Bệnh thận nhiễm bột.
Bệnh viêm mạch máu do miễn dịch (cryoglobulin máu hỗn hợp, u hạt Wegener, viêm nhiều động mạch máu, viêm thành mạch dị ứng…).

Bệnh nhiễm khuẩn:

nhiễm khuẩn (nhiễm liên cầu khuẩn, giang mai, viêm nội tâm mạc nhiễm vi khuẩn bán cấp và cấp tính).
Nhiễm virus (virus viêm gan B, virus viêm gan C, HIV, Cytomegalovirus).
Nhiễm ký sinh trùng (sốt rét, Toxoplasma, sán máng…).

Do thuốc:

Muối vàng, thuỷ ngân và các kim loại nặng.
Penicillamin.
các thuốc kháng viêm ko steroid.
Lithi.
Catopril.
Heroin.
các thuốc khác (probenecit, chlopropamit, ripampicin, tolbutamit, phenindion…).
Dị ứng, nọc rắn, nọc ong và miễn dịch.
bệnh ung thư.
Bệnh Hodgkin, bệnh bạch cầu lympho (thường làm nên bệnh cầu thận chấn thương nhẹ tối thiểu).
các khối u đặc (thường làm nên bệnh cầu thận màng).
Bệnh di truyền & chuyển hoá:
hội chứng Alport.
Bệnh Fabry.
Bệnh hồng cầu hình liềm.
hội chứng thận hư bẩm sinh.
hội chứng thận hư có đặc điểm mái ấm gia đình.
triệu chứng móng tay – xương bánh chè.
các nguyên nhân khác:
Liên quan tới thai nghén.
Thải tạng ghép.
Bệnh huyết thanh.
Hẹp động mạch thận 1 bên.
ngăn ngừa bệnh triệu chứng thận hư
chữa bệnh nguyên do gây nên là biện pháp ngăn ngừa hội chứng thận hư.
Loading Facebook Comments ...